Trước hết chúng ta cần phải Nội thất Gia Khánh tìm hiểu rõ lịch sử phát triển từ kim chỉ nam đến la bàn. Kim chỉ nam được người Trung Quốc cổ đại phát minh sốm nhất, là một trong-: bôh phát minh lốn nhất của Trung Quốc cô đại. Sự phát triển của kim chỉ nam trải qua giai đoạn lịch sử rất dài. Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau có hình thức và tên gọi không giông nhau. Tên gọi đầu tiên của nó là tư nam.
Người ta đã tìm thấy những ghi chép liên quan đến tư nam trong các thư tịch cổ của Trung Quốíc. Như cuốn “Quỷ Cốc Tử - mưu thiên” ở thế kỷ bôn trước Công nguyên ghi: “Đặng tử thủ ngọc, tất đái tư nam, đồ nội thất hàn quốc vi kỳ bất hoặc dã”. Trong “Hàn Phi Tử” thế kỷ ba trước Công nguyên cũng có những lời kể liên quan đến tư nam: “... cô" tiên vương lập tư ilam, dĩ đoan triều tịch”. Những tư liệu lịch sử này chứng tỏ từ thòi Chiến Quốic xa xưa, người Trung Quốíc cô đại đã phát hiện ra nam châm có tác dụng hút sắt và chỉ cực, đồng thòi họ phát minh ra công cụ chỉ phương hướng. Trong tác phẩm “Luận Hoành” của Vương Xung triều Đông Hán cũng miêu tả tư nam tương đối cụ thể. Trên các phiến đá thời Đồng Hán được tìm thấy ở Hà Nam - (Trung Quốc) cũng có bản đồ vẽ tư nam. nội thất phong cách hàn quốc Theo các khảo chứng của học giả, tư nam là đồ vật làm từ nam châm mài thành hình cái muôi, kích thước tựa như chiếc muôi canh chúng ta dùng hằng ngày. Điều khác với muôi canh là đế của tư nam hình cầu, có thể tự do chuyển động trên mặt trơn nhẵn. Đặt nó trên bàn đồng, xoay cán làm cho nó chuyển động, sau khi ngừng cái cán chỉ ngay vào hướng Nam. Do tính từ trường của nam châm làm tư nam yếu nên khi tiếp xúc với bàn, lực ma sát cản trở chuyển động cũng tương đối lớn nên kết quả chỉ nam của nó có hạn, về sau dần dần bị đào thải.
Cùng với sự phát triển của ngành hàng hải, con người cần phải có công cụ chỉ hướng tốt hơn. Thực tiễn đã được kiểm nghiệm, con người phát hiện ra phương pháp làm nam châm nhân tạo. Từ đó chế tạo ra chỉ nam ngư có hiệu quả cao hơn. Những ghi chép liên quan đến chỉ nam ngư xuất hiện sớm nhất vào thời Tây Tấn, trong cuốn “Cổ kim chú” của Thôi Báo.
Sau này, kiến thức từ học càng phát triển, loài người lại phát minh ra kim chỉ nam. Ghi chép liên quan đến kim chỉ nam xuất hiện sốm nhất trong cuốn “Mộng Khê bút đàm” của Thẩm Quát. Quyển 24 “Tạp chí nhất” ghi như sau: “Phương gia dĩ từ thạch ma kim phong, tắc năng chỉ nam, nhiên thường phiến đông, bất toàn nam dẵ”. Đây là ghi chép liên quan đến góc nghiêng của địa từ sốm nhất trên thê giới.
Tư nam.
Kỹ thuật chỉ nam tiến thêm một bước, người Trung Quốc cổ đại lại phát minh ra dụng cụ chỉ nam thuận tiện hơn: La bàn. Ghi chép về la bàn sớm nhất trong “Nhân thoại lục” của Tăng Tam Dị thời Nam Tông. La bàn thòi ấy là la bàn nước, kim nam châm xuỹên ngang cái bấc nđì' trên mặt nưốc. Đến năm Gia Tĩnh đòi Minh (1522 - 1566) mới xuất hiện la bàn khô. La bàn khô dùng chiếc đinh đóng vào giữa kim nam châm và làm cho lực cản ma sát cực kỳ nhỏ, kim nam châm có thể tự .do chuyển động. Kim nam châm đã được đóng cố định một chỗ nên không thể trôi nổi, rơi lung tụng. Vì thế la bàn khô hợp dùng cho ngành hàng hải hơn la bàn nước. Các nước phương Tây dùng la bàn khô sớm hơn Trung Quốc. La bàn sớm nhất chỉ có hai cực Nam và Bắc, sau này mới thêm Đông Tây. Để tiện cho việc sử dụng, người ta lại thêm tám phương vị từ bôn phương phòng ngủ kiểu hàn quốc vị nền tảng Đông - Tây - Nam - Bắc, tổng cộng có tất cả mười hai phương vị.
Từ đó có thể thấy rằng, la bàn mà chúng ta thấy ngày nay được phát triển theo nguyên lý của kim chỉ nam ngày xưa.



5:01 AM
Phương Trinh
Posted in:












0 nhận xét:
Post a Comment